"Có tìm hiểu dĩ vãng của chính mình thì mới qúi nó được, và có qúi trọng dĩ vãng thì mới tìm được hướng đi cho tương lai"Đó là lời của cố Học gỉa Nguyễn Hiến Lê mà người viết bài này muốn gửi đến các bạn trẻ và những ai lưu tâm đến việc bảo vệ kho tàng văn hóa dân tộc.

Khi tìm đọc văn học sử Việt Nam, chiếc áo dài qủa đã ghi lại rất nhiều nét đan thanh không những qua ca dao tục ngữ mà còn qua điêu khắc, hội họa, kịch nghệ, văn chương và âm nhạc.

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, chiếc áo dài Việt Nam đầu tiên với hai tà áo thuớt tha bay lượn đã được Tiền nhân ghi khắc trên cổ vật như Trống Đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ... từ trên 3000 năm trước.

Áo dài Việt Nam qủa đã có một qúa trình đi sát với lịch sử dân tộc để lắm phen khóc cười theo mệnh nước nổi trôi. Trải qua cả 10 thế kỷ bị Trung hoa đô hộ - một Trung hoa vĩ đại về mọi phương diện, rồi ngót 1 thế kỷ dưới ách thống trị của Pháp, Quốc gia đứng hàng đầu về thời trang quốc tế - tà áo dài Việt Nam vẫn uyển chuyển tung bay, biểu dương tinh thần bất khuất, đặc tính thích nghi với hoàn cảnh, và khiếu thẩm mỹ của người Việt.

Dưới thời kỳ bị Trung Hoa đô hộ, dân ta đã bao phen bị người Tàu ra lệnh đồng hóa. Đàn ông phải dóc tóc bím đuôi sam, đàn bà phải cắt tóc ngắn và mặc quần thay vì mặc váy, mọi người đều phải để răng trắng không được nhuộm... Nhưng những cổ vật tiền nhân để lại cho thấy người Việt xưa vẫn búi tóc, vẫn mặc áo dài và váy.

Chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì 2 thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng màu buông thả. Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài, về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng. Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày...

Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân với váy xoắn quai cồng để tiện việc gồng gánh, nhưng vẫn không làm giảm nét đẹp của người nữ.

Vẻ yêu kiều, nét duyện dáng, nết đoan trang của phụ nữ thời áo tứ thân được mô tả rõ rệt qua bài ca dao Muời Thương :


Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyện
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón lá quai tua dịu dàng
Bảy thương nét ở đoan trang
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt hữu tình với ai


Ngoài đồng ruộng hay trong những buổi chợ, chiếc áo tứ thân có màu nâu non, nâu gìa hoặc đen mặc với váy vải thô nhộm bùn, nhưng trong những dịp hội hè, đình đám cưới hỏi, áo được may bằng hàng the, nhiễu, thao, lụa, khoác bên ngoài chiếc yếm đỏ thắm hay hồng đào và phủ lên chiếc váy lĩnh hoa chanh hoặc váy sồi có thắt lưng màu lá mạ hay màu cánh chả bay lượn trong gió. Các bà, các cô vấn tóc trong khăn nhung hoặc vấn trần có một lọn để đuôi gà làm duyên, đội nón thương quai thao, lưng đeo bộ xà tích bằng bạc, tay đeo vòng hay xuyến, cổ đeo chuỗi hạt vàng, chân mang giày dừa, dép cong.