Trang tin tức về Nhật Bản - Việt Nam - ASEAN - Nhật - Mỹ: cần tính đến sự trỗi dậy của Trung Quốc
  • Việt Nam - ASEAN - Nhật - Mỹ: cần tính đến sự trỗi dậy của Trung Quốc

    Xem xét tác động của Trung Quốc với kinh tế Việt Nam
    ( Tác giả: Xuân Linh // Theo VietnamNet )

    Góp ý cho Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 10 năm tới của Chính phủ tại hội thảo hôm nay (31/3) ở Hà Nội, các chuyên gia kinh tế đặc biệt lưu ý việc cần đánh giá sâu sắc những tác động, ảnh hưởng từ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc.

    Thách thức cận kề

    Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nói cần phân tích tác động của xu thế gia tăng tranh chấp kinh tế (cạnh tranh đầu vào, đầu ra) do sự tăng trưởng nhanh và lớn mạnh vượt bậc của một số nền kinh tế, nhất là Trung Quốc, đến triển vọng phát triển của Việt Nam.

    Cùng góc độ xem xét, TS Lê Đăng Doanh lấy ngay thách thức cận kề: 900 mặt hàng của Trung Quốc có thuế suất bằng 0 sẽ tràn vào thị trường Việt Nam khi Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc chính thức có hiệu lực ở Việt Nam năm 2015.
    Chuyên gia kinh tế cảnh báo nhu cầu lớn về tài nguyên của Trung Quốc sẽ tác động đến Việt Nam. Ảnh: Vietnamnet

    Thách thức cạnh tranh cho thị trường nội địa, như ông Doanh nói khái quát ở tầm vĩ mô, sẽ tác động đến nền công nghiệp Việt Nam ở mức "không thể xem thường", phải chuẩn bị tốt nhất về chiến lược kinh tế vĩ mô trong 10 năm tới. Điều này càng quan trọng khi thâm hụt cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, vốn luôn ở mức cao.

    Để tăng sức bật cạnh tranh của nền kinh tế, ông Doanh cũng lưu ý chiến lược phát triển không chỉ chú trọng năng lực cạnh tranh của công nghiệp mà phải tính đến cạnh tranh nông nghiệp và thủy sản.

    Từ góc nhìn trung và dài hạn, Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển nông thôn Đặng Kim Sơn cho rằng với tốc độ phát triển nhanh như hiện nay, "Trung Quốc có nhu cầu lớn về tài nguyên, đặc biệt là nước và khoáng sản, điều này sẽ tác động đến Việt Nam".

    Theo đó, chiến lược lương thực, thủy sản, ngư dân ở vùng lưu lượng nước lớn, vùng nông nghiệp lớn sẽ bị thay đổi nghiêm trọng. Bên cạnh đó, chính sách phát triển nông thôn hài hòa của Trung Quốc đẩy mạnh cạnh tranh quyết liệt thu hút nhiều lao động từ Việt Nam.

    Điều chỉnh chiến lược thu hút FDI

    Góp ý cho Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 10 năm tới, nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển lưu tâm vấn đề hiệu quả đầu tư. Theo ông, mức đầu tư quốc gia 40% GDP trong nhiều năm qua quá lớn. Nhiều công trình đầu tư không tạo được năng lực sản xuất mới, kể cả đầu tư nước ngoài (FDI).

    Ông Tuyển cho rằng "Chính phủ phải chống lại quan điểm cho rằng bản thân FDI cũng là một chiến lược đầu tư mang tính chiến lược". Việt Nam phải chủ động hơn trong thu hút FDI từ các nền kinh tế thị trường tiên tiến hơn - những nền kinh tế có những công nghệ tiên tiến nhất sẵn có hiện nay để đẩy nhanh quá trình học hỏi.

    Ông cũng cho rằng "cần điều chỉnh chiến lược thu hút FDI". FDI cần được thu hút vào các lĩnh vực chiến lược và thiết lập được nhiều cơ chế chuyển giao công nghệ hiệu quả hơn.

    Một vấn đề quan trọng cũng được các chuyên gia lưu tâm là đổi mới thể chế. Ông Đặng Kim Sơn cho rằng Việt Nam đã đạt sự đột phá về chính sách trong 25 năm đổi mới song "cần có những giải pháp cụ thể về thể chế để đảm bảo việc thực thi chính sách hiệu quả".

    Ông Lê Đăng Doanh đồng tình: "Nếu không đổi mới về thể chế thì khó có tiến bộ trong chống tham nhũng hay công khai minh bạch".


    Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020:
    Cần tính tới sự trỗi dậy của Trung Quốc
    ( Tác giả: HƯƠNG GIANG // Theo Báo Tuổi Trẻ )

    Nhiều ý kiến đóng góp tại hội nghị lần thứ nhất đối với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 đều nhắc VN không nên quên tính tới sự trỗi dậy của nước láng giềng Trung Quốc.

    Tại hội nghị được Bộ Kế hoạch-Đầu tư và Liên hiệp quốc tại VN tổ chức ngày 31-3, các đại biểu VN thuộc hay không thuộc Tổ Biên tập chiến lược đều đưa ra nhận xét: các báo cáo xây dựng chiến lược hiện nay vẫn chưa phân tích đẩy đủ những xu hướng khu vực và toàn cầu sẽ ảnh hưởng tới VN như liên kết ASEAN, xu hướng gia tăng tranh chấp kinh tế, tranh chấp biển Đông, vấn đề sông Mekong, sự nổi lên của Trung Quốc, các xu hướng thông tin-văn hoá đang và sẽ tạo ra các xu thế xã hội rất mới ở VN,…

    TS Đặng Kim Sơn - Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn - nói: “Với mức độ phát triển hiện nay của Trung Quốc, nhu cầu về tài nguyên như nước và khoáng sản của họ đương nhiên tác động đến VN. Về xã hội, sự già đi trong dân số và chênh lệch nam nữ của châu Á đều sẽ gây tác động quan trọng tới VN. Về công nghiệp, chính sách phát triển nông thôn hài hòa của Trung Quốc, họ đẩy mạnh công nghiệp thu hút nhiều lao động về phía Tây, chắc chắn sẽ tạo ra cạnh tranh quyết liệt với các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động của VN. Toàn bộ bức tranh đó phải được tính đến trong chiến lược".

    TS Lê Đăng Doanh đưa ra gợi ý về những tác động VN sẽ phải xử lý khi Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc có hiệu lực với VN từ năm 2015: “Sẽ có khoảng 900 mặt hàng Trung Quốc có thuế suất bằng 0. Tác động tới kinh tế VN là không thể xem thường. Chiến lược phát triển mới phải chuẩn bị mạnh mẽ cho tình huống đó".

    Ngoài ra, các đại biểu cùng cho rằng chiến lược phải nhấn mạnh khía cạnh xã hội, môi trường sao cho hai mảng này được chú trọng tương xứng với những tham vọng về phát triển kinh tế của VN trong thập niên tới.

    Ngay từ bài phát biểu khai mạc, Đại diện Thường trú của LHQ tại VN là ông John Hendra đã nhấn mạnh: “Những thành tựu trong quá khứ không nhất thiết sẽ bảo đảm cho thành công trong tương lai.” Theo ông Hendra, chiến lược phát triển của hai giai đoạn trước đã giúp VN tiến lên từ nền kinh tế nghèo nàn và dựa trên nông nghiệp, một nền kinh tế bị tách biệt khỏi kinh tế thế giới trong nhiều năm, trở thành một nền kinh tế giàu có hơn, dựa vào thị trường và đang phát triển nhanh chóng, ngày càng hội nhập vào cộng đồng khu vực và toàn cầu.

    Trao đổi với Tuổi Trẻ bên lề hội nghị, ông Hendra nói: “Về khía cạnh xã hội, VN nên tập trung một số vấn đề sau: cần tiếp tục xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là nâng cao chất lượng chính sách xã hội. Thứ hai là giảm khoảng cách giàu nghèo,làm sao để tăng trưởng kinh tế mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Thứ ba là chiến lược mười năm tới phải đảm bảo có cách tiếp cận bền vững như tính tới biến đổi khí hậu, đảm bảo những người chịu các cú sốc về kinh tế, thiên tai,… được bảo vệ.”

    Ngoài ra, TS Đặng Kim Sơn cũng cho rằng đột phá của VN trong 25 năm qua là về chính sách, nhưng vấn đề của thập niên tới sẽ là thể chế: “Nhiều chính sách đề ra là đúng nhưng không thực hiện được hoặc không đến nơi đến chốn. Như vậy vấn đề vướng và cần xử lý là thể chế, từ cấp cộng đồng đến cấp vùng và vĩ mô. Cách tiếp cận hiện nay của chúng ta giúp ta xử lý và làm rõ vấn đề chính sách nhưng chưa tạo niềm tin là có giải pháp, chưa có lối ra.”

    Dự kiến trong năm nay Tổ Biên tập Chiến lược sẽ tổ chức thêm hai hội nghị tương tự để lấy thêm ý kiến đóng góp cho Chiến lược 2011-2020.


    ASEAN được và mất gì khi gia nhập FTA với Trung Quốc?
    (Trang tin VN&QT)

    Trong bối cảnh cuộc đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dần bị chìm vào quên lãng, các nền kinh tế phát triển trên thế giới có xu hướng thiết lập thỏa thuận thương mại với các đối tác nhỏ hơn. Trung Quốc được xem là một trong những nước tích cực nhất khi tham gia trò chơi này, đặc biệt khi Khu vực Tự do Thương mại ASEAN – Trung Quốc (CAFTA) bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2010.

    Là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới, CAFTA đã trở thành ngôi nhà chung cho 1,9 tỷ người tiêu dùng với tổng sản phẩm quốc dân của tất cả các nước cộng lại lên tới 5,9 nghìn tỷ USD và kim ngạch thương mại đạt 1,3 nghìn tỷ USD. Theo thỏa thuận, Trung Quốc, Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore sẽ áp mức thuế suất bằng không đối với hơn 7.000 nhóm hàng hóa. Tới năm 2015, các thành viên mới của ASEAN là Việt Nam, Lào, Cambodia và Myanmar mới chính thức tuân thủ quy định này.

    FTA song phương ASEAN - Trung Quốc đi vào hoạt động trong bối cảnh quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN đã tăng mạnh trong thập kỷ qua. Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã đạt tới 231,1 tỷ USD trong năm 2008, so với mức 19,5 tỷ USD của năm 1995.

    Đặc biệt trong 4 năm qua, hoạt động thương mại đã tăng gấp đôi với việc ký kết các thỏa thuận về trao đổi hàng hóa, dịch vụ và một hiệp ước về khuyến khích đầu tư liên khu vực. Trung Quốc cũng đã chiếm chỗ của Mỹ để trở thành đối tác thương mại lớn thứ 3 của ASEAN và tiến tới sẽ vượt Nhật và EU để trở thành đối tác số 1 của khu vực này trong vòng vài năm đầu của FTA.

    ASEAN và Trung Quốc hy vọng FTA song phương sẽ mở rộng tầm với thương mại của châu Á trong khi tăng cường giao dịch trong khu vực; giúp hai bên bớt phụ thuộc vào thị trường bên ngoài. Báo giới Trung Quốc đều ca ngợi thỏa thuận tự do thương mại này sẽ mang lại lợi ích chung cho cả Trung Quốc và ASEAN. Tại thời điểm ký hiệp định vào năm 2002, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo cho rằng, CAFTA sẽ trở thành một tổ chức khu vực có thể đối trọng với Mỹ và Liên minh châu Âu.

    Tuy nhiên, điều này không hẳn như vậy. CAFTA dường như mang lại lợi ích cho Trung Quốc nhiều hơn là ASEAN.

    Đầu tư vào ASEAN giảm mạnh

    Nhu cầu tăng đến chóng mặt nhằm đáp ứng sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã từng được xem là yếu tố chủ chốt cho sự phát triển của ASEAN trong khoảng thời gian năm 2003, sau khi tăng trưởng của khối chậm lại do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998.

    Báo cáo của Liên hợp quốc cho rằng, trong năm 2003 và đầu năm 2004, Trung Quốc là một động cơ tăng trưởng chính của hầu hết các nền kinh tế trong khu vực châu Á. Nhập khẩu của nước này tăng mạnh, thậm chí vượt xuất khẩu, trong đó nguồn cung hàng hóa chủ yếu từ châu lục này. Tuy nhiên, khi Trung Quốc tăng trưởng mạnh mẽ, thì cũng là lúc ASEAN gặp nhiều bất lợi. Các nhà sản xuất trong và ngoài nước lần lượt rút hoạt động khỏi ASEAN và chuyển về Trung Quốc do nguồn lao động ở đây rẻ hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Điều này có thể nhận thấy như khi Trung Quốc giảm giá đồng Nhân dân tệ (NDT) vào năm 1994 cũng gây ra làn sóng rút đầu tư khỏi ASEAN. Xu hướng này đã diễn ra khá mạnh kể từ sau cuộc khủng hoảng 1997. Năm 2000, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN chỉ còn chiếm 10% trong tổng đầu tư vào các nước châu Á, giảm mạnh so với 30% vào giữa những năm 1990.

    Hàng lậu, vấn đề đau đầu không của riêng ai


    Từ nhiều năm nay, tình trạng hàng lậu Trung Quốc xuất hiện tràn lan đã ảnh hưởng đến các nền kinh tế ASEAN. Việt Nam là một ví dụ. Khoảng 70-80% cửa hàng giày dép ở đây bán hàng lậu từ Trung Quốc, gây thiệt hại nặng nề cho ngành sản xuất giày dép trong nước.

    Đối với trường hợp của Philippines, báo cáo gần đây của tổ chức Liên minh Tự do Thương mại cho rằng, ngành sản xuất giày dép của nước này cũng chịu tác động lớn do hàng lậu Trung Quốc. Hàng lậu không chỉ dừng lại ở mặt hàng giày dép mà còn lan rộng ra hầu hết các mặt hàng khác trong đời sống như thép, giấy, xi măng, nhựa… Nhiều công ty của Philippines đã phải đóng cửa hoặc giảm sản xuất và nhân công do tình trạng hàng lậu.

    Nhiều nhà kinh tế lo ngại rằng, CAFTA có thể hợp pháp hóa số hàng lậu này và khiến cho ngành công nghiệp của ASEAN trở nên tệ hại hơn.

    Trong lĩnh vực nông nghiệp

    Tỉnh Benquet vẫn được xem là khu vực sản xuất rau và hoa quả chính của Philippines cũng đang khốn đốn vì tình trạng tràn lan của hàng hóa Trung Quốc. Thống đốc tỉnh này cho rằng, CAFTA đã gây sốc với nhiều nông dân ở đây, bởi vì hầu hết người dân không biết rằng chính phủ Philippines đã ký thỏa thuận gia nhập CAFTA từ năm 2002. Khi chưa có thỏa thuận tự do thương mại, Philippines đã thâm hụt thương mại 370 triệu USD với Trung Quốc. Dự kiến con số này không chỉ dừng lại ở đây sau khi CAFTA có hiệu lực.

    Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Thái Lan, nơi mà tác động của Chương trình “thu hoạch sớm” Thái Lan-Trung Quốc, một phần trong CAFTA, đã quá rõ ràng. Theo thỏa thuận, Thái Lan và Trung Quốc nhất trí lập tức xóa bỏ hàng rào thuế quan đối với trên 200 nhóm hàng hóa rau quả. Thái Lan sẽ xuất khẩu hoa quả nhiệt đới sang Trung Quốc, trong khi hoa quả ôn đới của Trung Quốc sẽ vào Thái Lan với thuế suất bằng 0. Tuy nhiên, hy vọng về thỏa thuận sẽ mang lại lợi ích chung cho hai nước đã nhanh chóng chấm dứt sau đó vài tháng. Còn Thái Lan gần như trắng tay với thỏa thuận này.

    Chương trình “thu hoạch sớm” đã xóa sổ toàn bộ các nhà sản xuất tỏi và hành ở khu vực phía bắc Thái Lan, đồng thời làm tê liệt các dự án bán hoa quả của nước này. Báo chí Thái Lan đã chỉ trích Trung Quốc là không chịu giảm cắt giảm thuế như trong thỏa thuận song phương trong khi chính phủ Thái Lan thực hiện quá nghiêm túc việc này.
    Bài học từ chương trình “thu hoạch sớm” của Thái lan đã tạo ra tâm lý lo sợ không chỉ ở Thái Lan mà còn trong khu vực Đông Nam Á.

    Cạnh tranh gay gắt hơn

    Các chuyên gia cho rằng, FTA giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ khiến một số ngành công nghiệp của Đông Nam Á chịu sự cạnh tranh lớn từ Trung Quốc. Một số nhà sản xuất lo ngại hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc có thể ngập tràn thị trường nước mình một khi thuế nhập khẩu được dỡ bỏ. Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho chính quyền địa phương trong việc duy trì hoặc tăng cường thị phần của mình.

    Tại Indonesia, ngành công nghiệp dệt may và thép tỏ ra đặc biệt lo ngại về việc dỡ bỏ thuế quan, khiến chính phủ nước này từng nêu vấn đề có thể sẽ đề nghị hoãn áp dụng miễn thuế đối với một số sản phẩm.

    Quan điểm của Trung Quốc

    Về phía Trung Quốc, các quan chức nước này đều nhận thấy lợi ích mà CAFTA mang lại. Theo nhà kinh tế học người Trung Quốc Angang Hu, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc này đó là đưa nền kinh tế nước này hội nhập hơn nữa với kinh tế toàn cầu với tư cách là “trung tâm công nghiệp sản xuất của thế giới”. Một phần của kế hoạch là mở cửa thị trường ASEAN cho các sản phẩm hàng hóa của Trung Quốc. Trung Quốc vẫn xem Đông Nam Á, nơi tiêu thụ khoảng 8% hàng xuất khẩu của Trung Quốc, là một thị trường quan trọng với nhiều tiềm năng. Kế hoạch này được xem là rất quan trọng do tư tưởng bảo hộ tại các nước EU và Mỹ đang ngày càng lớn.

    Ông Hu cho rằng, chiến lược thương mại của Trung Quốc được thực hiện theo mô hình “mở cửa một nửa”. Tức là mở toang cửa hay chỉ tự do thương mại đối với hàng xuất khẩu, nhưng lại bảo hộ đối với hàng nhập khẩu.

    Tóm lại, ASEAN được lợi gì trong cuộc chơi này vẫn là điều chưa thể khẳng định. Chắc chắn, ASEAN không thể cạnh tranh với ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động của Trung Quốc và càng không có lợi thế đối với các sản phẩm công nghệ cao.

    Thượng đỉnh ASEAN 16 tại Hà Nội (8 – 9.4.2010)
    Biển Đông và Mekong được đề cập trong những thách thức
    ( Tác giả: Huỳnh Phan phỏng vấn trợ lý ngoại trưởng Phạm Quang Vinh // Theo Sài Gòn Tiếp Thị )

    Trước sự kiện này, phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi với trợ lý ngoại trưởng Phạm Quang Vinh, trưởng đoàn Việt Nam tại hội nghị các quan chức cao cấp (SOM), về những vấn đề nghị sự được coi là nổi cộm.

    Vấn đề cạn kiệt ở hạ lưu sông Mekong có được đưa ra bàn ở cấp cao ASEAN 16, và đưa vào tuyên bố chung về ứng phó biến đổi khí hậu, hay không?

    Đây là hợp tác chung của ASEAN trong lĩnh vực này nên chủ đề tập trung vào hai mảng lớn. Một là lập trường của khu vực này trong tiến trình hợp tác toàn cầu. Hai là phối hợp nỗ lực của các nước trong khu vực nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.

    Về mảng thứ hai, ASEAN tính đến rất nhiều yếu tố liên quan đến bảo vệ môi trường, trong đó có bảo vệ nguồn nước và lưu vực của các con sông, đặc biệt là sông Mekong. Tất cả những yếu tố đó dự kiến đều được đưa vào tuyên bố chung.

    Các lãnh đạo ASEAN có chuyển một thông điệp mạnh mẽ cho đối tác có liên quan không?

    Liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước và lưu vực các con sông, có nhiều diễn đàn khác nhau. Tuyên bố ở đây mang tính chất chính sách và chính trị ở cấp cao của cả khối, và, vì vậy, chỉ tập trung vào vấn đề chung nhất. Việc bàn kỹ, hay đưa ra thông điệp, sẽ được thực hiện ở các diễn đàn chuyên trách khác. Chẳng hạn, vấn đề sông Mekong sẽ được bàn rất kỹ ở hội nghị cấp cao của Uỷ hội Mekong quốc tế vào đầu tuần tới ở Hua Hin.

    Có những thông tin nói rằng nguy cơ và những diễn biến gây bất ổn gần đây ở Biển Đông có thể được nêu ra ở hội nghị cấp cao lần này, như một thách thức với an ninh khu vực. Xin ông cho biết cụ thể hơn.
    Nội dung chính của Thượng đỉnh ASEAN 16
    1. Đẩy nhanh triển khai thực hiện Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng ASEAN. Tập trung vào việc tăng cường kết nối ASEAN.
    2. Tăng cường năng lực của khu vực và hợp tác khu vực trong việc ứng phó với các thách thức toàn cầu, đặc biệt là đảm bảo phục hồi kinh tế và phát triển bền vững, cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu.
    3. Tăng cường và làm sâu sắc các quan hệ của ASEAN với các bên đối tác, trong đó duy trì được vai trò trung tâm của ASEAN.
    4. Tăng cường quảng bá hình ảnh và vị thế của ASEAN trong các tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
    Ngoài tuyên bố của Chủ tịch về kết quả làm việc của hội nghị, có hai tuyên bố quan trọng (theo sáng kiến của Việt Nam)
    1. Tuyên bố của các lãnh đạo ASEAN về phục hồi kinh tế và phát triển bền vững.
    2. Tuyên bố về ứng phó với biến đổi khí hậu.


    Hội nghị cấp cao này bàn về việc xây dựng Cộng đồng ASEAN trên ba trụ cột. Riêng về trụ cột chính trị – an ninh, ngoài việc nâng hợp tác lên một tầm mới, việc xây dựng cộng đồng là nhằm tạo dựng một môi trường hoà bình, ổn định và hợp tác. Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến mục đích này sẽ đều được đưa ra bàn ở hội nghị cấp cao.

    Cụ thể, các thành viên ASEAN sẽ nhấn mạnh lại và khẳng định yêu cầu phải thực hiện đầy đủ những gì đã thoả thuận, chẳng hạn TAC (Hiệp ước về hợp tác và thân thiện Đông Nam Á) mà Trung Quốc và Mỹ đều đã tham gia, hoặc DOC (Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông) giữa ASEAN với Trung Quốc…

    Tại cấp cao lần này, liệu Việt Nam và các thành viên còn lại có đặt quyết tâm thúc đẩy DOC thành COC (Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông) không?

    Việc thúc đẩy COC có được đưa vào tuyên bố chung hay không còn phụ thuộc vào quá trình thảo luận tại hội nghị, dựa trên kết quả tham vấn và đối thoại trước đó với Trung Quốc. Ở thời điểm này, tôi chưa nói được gì.

    Việt Nam cũng đồng thời làm chủ tịch của cơ quan mới được thành lập của ASEAN là Cơ quan liên chính phủ về nhân quyền. Cơ chế giải quyết nhân quyền của ASEAN khác gì so với các cơ chế nhân quyền khác trên thế giới?

    Điểm quan trọng nhất là cơ quan này tăng cường hợp tác của ASEAN trong lĩnh vực nhân quyền, nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc của hiến chương, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

    Thứ hai, các nước ASEAN thống nhất thúc đẩy quảng bá các giá trị chung liên quan đến nhân quyền, đồng thời việc thực hiện việc đảm bảo nhân quyền phải phù hợp với đặc thù về truyền thống, lịch sử, văn hoá, tôn giáo của khu vực Đông Nam Á và từng nước.

    Trong lần làm Chủ tịch ASEAN cách đây 12 năm, Việt Nam đã có một thách thức lớn phải vượt qua là việc kết nạp Campuchia. Liệu vấn đề bảo đảm tiến trình dân chủ ở Myanmar, đặc biệt liên quan đến bầu cử, sẽ lại là một thách thức lớn khác không?

    Ngay tại hội nghị ngoại trưởng tại Đà Nẵng vào tháng 1.2010, ngoại trưởng Myanmar đã thông báo việc chuẩn bị bầu cử, cũng như việc thực hiện lộ trình dân chủ ở nước này. Các thành viên ASEAN còn lại đã bày tỏ mong muốn rằng Myanmar, bên cạnh việc đảm bảo hoà bình, ổn định và phát triển, cần phải thúc đẩy hơn nữa tiến trình dân chủ và hoà hợp dân tộc, như lãnh đạo nước này đã cam kết. Ở cấp cao, ASEAN vẫn có lập trường và mong muốn như vậy.

    Trước ASEM 5 (2004) nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, với tư cách đặc phái viên của Thủ tướng Việt Nam, đã thăm Myanmar với mục đích dàn xếp bất đồng giữa EU và Myanmar, để hội nghị này diễn ra thành công, với việc Myanmar được kết nạp vào ASEM. Vào thời điểm hiện nay, đối với những vấn đề có thể ngăn cản ASEAN cải thiện quan hệ với các đối tác bên ngoài, chẳng hạn như vẫn là vấn đề Myanmar, quan điểm và hành động của Việt Nam, đương kim Chủ tịch ASEAN, như thế nào?

    Bản thân Việt Nam với tư cách là một nước bạn bè truyền thống và một thành viên trong khối đang chia sẻ với Myanmar rất nhiều kinh nghiệm về đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Những điều đó, ngoài việc đóng góp cho tiến trình xây dựng lòng tin, còn giúp Myanmar có được những kinh nghiệm tốt trong quá trình và dân chủ hoá của mình.

    Việt Nam đã từng có những trải nghiệm đáng nhớ về thời kỳ bị bao vây cấm vận, cũng như những kinh nghiệm để thoát ra mà phát triển. Chuyến thăm Myanmar của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, bắt đầu từ ngày 2.4 tới, cũng sẽ được hiểu theo ý nghĩa chia sẻ những trải nghiệm và kinh nghiệm đó, thưa ông?

    Trước hết, đây là chuyến thăm song phương nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác song phương, như vụ Thông tin – báo chí đã thông báo chính thức. Tất nhiên, Việt Nam có đủ trải nghiệm và kinh nghiệm hội nhập để phát triển, để chia sẻ. Nhưng việc tiếp thu ra sao lại do phía Myanmar quyết định.


    Suy tính của Mỹ trước sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc tại Đông Nam Á
    ( Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông )

    Nhà báo Peter. J. Brown đã có bài viết về suy tính của Mỹ đối với sự hiện diện của Trung Quốc tại Đông Nam Á với nhan đề “Mỹ suy tính về sự trỗi dậy của Trung Quốc tại Đông Nam Á” đăng trên mạng Asia Times tháng 3/2010. Sau đây là nội dung bài báo.
    Nguồn: nghiencuubiendong.vn

    Cuối tháng trước, Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung (USCC) đã tổ chức một buổi điều trần dài về các hoạt động của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á và tác động đối với lợi ích của Mỹ trong khu vực chiến lược này. Có năm nghị sĩ, hai quan chức cấp cao của Chính phủ Mỹ và 10 chuyên gia tới USCC để điều trần vào lúc Mỹ hứa hẹn sẽ tập trung vào quan hệ ngoại giao ở khu vực Đông Nam Á.

    Ủy viên USCC, ông Larry Wortzel nhấn mạnh về những ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc gia tăng trong khu vực và lưu ý rằng Bắc Kinh tài trợ nhiều dự án khai thác tài nguyên với mục tiêu tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế của Trung Quốc. Học giả này cũng cho biết rằng Bắc Kinh cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp để tài trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt ở Mianma, Lào và Campuchia.

    Ngoài những thoả thuận kinh tế của Trung Quốc trong khu vực, học giả Wortzel còn chú trọng tới sự mở rộng ảnh hưởng gần đây về an ninh tại Đông Nam Á của Trung Quốc, bao gồm cả việc bán vũ khí và tập trận chung. Ông Wortzel cho biết: “Các cuộc viếng thăm quân sự cấp cao giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á gia tăng, trong đó có cuộc viếng thăm của các tàu hải quân Trung Quốc tại khu vực này”.

    Buổi điều trần diễn ra ngay sau chuyến đi của các thành viên của USCC tới Đài Loan và Việt Nam vào cuối tháng 12/2009 và đã thảo luận về sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Tại Việt Nam, Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế An ninh Mỹ-Trung thường xuyên được lưu ý rằng Hà Nội ngày càng lo lắng hơn về việc Trung Quốc gia tăng đòi hỏi chủ quyền của họ trên Biển Đông, nơi mà nhiều nước trong khu vực có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn.

    Học giả Wortzel cảnh báo: “Khi hải quân Trung Quốc cải thiện sức mạnh, có thể có cả hạm đội tàu sân bay trong tương lai không xa, cán cân quyền lực trong khu vực sẽ nghiêng hẳn về phía Trung Quốc. Đã có một số quốc gia bắt đầu có phản ứng, đó là việc công bố kế hoạch gần đây của Việt Nam mua 6 tàu ngầm hiện đại và 12 máy bay chiến đấu của Nga. Sự xuất hiện của dầu hỏa và khí đốt trong khu vực chỉ làm trầm trọng thêm tình hình”.

    Nghị sỹ Mỹ Dana Rohrabacher, thành viên của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, đã thẳng thắn chỉ trích ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc trong khu vực. Nghị sỹ này đã đề cập tới Trung Quốc như “một quốc gia chuyên chế đang tìm cách trở thành một đế chế độc tài, lan rộng ảnh hưởng và sự thống trị lên khắp khu vực, đặc biệt là tại khu vực Đông Nam Á”.

    Nghị sỹ Rohrabacher cho biết tại châu Á, có lẽ mối quan hệ thân thiện nhất mà Trung Quốc có là mối quan hệ với chế độ cầm quyền Mianma. Theo Rohrabacher, Trung Quốc đã trang bị vũ khí cho Chính quyền Mianma tới tận chân răng và đổi lại là quyền được khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú tại nơi đây.

    Giáo sư thỉnh giảng tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, Ellen Frost cho biết, chính phủ các nước Đông Nam Á đang cảnh giác về vấn đề gia tăng quân sự của Trung Quốc. Sau khi được trấn an về các động thái gần đây của Trung Quốc, một số nước vẫn không rõ mục đích cuối cùng của Trung Quốc là gì.

    Ellen Frost cho hay: “Các nhà lãnh đạo lớn tuổi hơn nhớ lại thời kỳ Trung Quốc tích cực hỗ trợ các thành phần nổi loạn ở đất nước họ. Thay vì tìm cách lập liên minh chống Trung Quốc, những người có kinh nghiệm điều hành chính phủ ở khu vực Đông Nam Á đã lựa chọn việc đưa Trung Quốc vào các tổ chức mà vị trí và chương trình nghị sự nằm trong sự kiểm soát của họ”.

    Theo Giáo sư Frost, “Họ tính toán rằng đưa Trung Quốc vào rất nhiều thoả thuận và các ủy ban, sẽ khuyến khích thái độ hòa bình và hợp tác, giúp ổn định khu vực. Nhưng để được an toàn, nhiều chính phủ ASEAN đang tái khẳng định hoặc tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ”.

    Giáo sư Frost lập luận: “Giới lãnh đạo ASEAN tìm cách gia tăng tối đa tiếng nói tập thể trong khu vực và rộng hơn trên thế giới. Họ tính toán rằng để cho Trung Quốc giữ vai trò lãnh đạo ở các tổ chức trong khu vực càng làm cho các cường quốc khác chú ý hơn tới khu vực và tham gia các họat động hợp tác với các nước ASEAN và thậm chí sẽ có các điều khoản hấp dẫn hơn để thương lượng”.

    Theo Phó trợ lý Bộ Ngoại giao Mỹ về vấn đề Đông Á-Thái Bình Dương, David Shear, rõ ràng là cả Trung Quốc và các nước ASEAN đều thấy hai bên cùng có lợi trong việc mở rộng thương mại và quan hệ kinh tế của Trung Quốc trong khu vực có khả năng sẽ phát triển hơn nữa khi gia nhập Khu vực Thương mại Tự do Trung Quốc-ASEAN (CAFTA), có hiệu lực vào đầu năm 2010.

    Ông Shear cũng lưu ý, có những lo ngại rằng cạnh tranh bằng hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc có thể ảnh hưởng không tốt đến ngành công nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á. Inđônêxia đã kêu gọi xem xét lại thoả thuận liên quan tới những mối quan ngại đó.

    Ông Shear nhận định, trong khi Đông Nam Á nhận ra nhiều cơ hội lớn ở Trung Quốc, họ vẫn thấy các mối quan hệ kinh tế với Mỹ và những nước khác là cần thiết.

    Trong năm 2008, doanh số thương mại của Trung Quốc với các nước trong khu vực là 193 tỉ USD, trong khi con số này năm 2001 chỉ là 45,5 tỉ USD. Trong khi đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào khu vực vẫn thấp so với Mỹ và Nhật Bản, nhưng viện trợ trực tiếp của Trung Quốc thì lớn hơn nhiều.

    Theo Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan, Trung Quốc đã chi 10 tỉ USD để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cải thiện đường bộ, đường sắt, đường hàng không và các đường viễn thông nối liền giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Bắc Kinh cũng đã bỏ ra 15 tỉ USD để cho vay nhằm thúc đẩy sự liên kết và hội nhập trong khu vực.

    Ngoại giao Trung Quốc, thường được gọi là “quyền lực mềm”, cũng đã nhấn mạnh tới các mối liên hệ văn hóa. Ví dụ như, khoảng 10.000 sinh viên Thái Lan hiện đang du học tại Trung Quốc (số sinh viên này nhiều hơn tại Mỹ). Ông Shear lưu ý rằng Trung Quốc đã mở Viện Khổng Tử đầu tiên tại châu Á vào năm 2004 và hiện nay có tới 70 viện trên khắp châu Á và 282 viện trên toàn cầu. Riêng tại Thái Lan, có tới 12 viện, và gần đây Trung Quốc đã mở một viện đầu tiên tại Campuchia.

    Để cạnh tranh gây ảnh hưởng tại khu vực này cần có làn sóng phát thanh. Trong khi Mỹ từ lâu đã hỗ trợ cho Đài châu Á Tự do và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ với các chương trình phát thanh trong khu vực, Trung Quốc đã lập Đài phát thanh Hữu nghị Trung Quốc-Campuchia hồi tháng 12/2008. Theo ông David Shear, tác động thực sự từ các nỗ lực của Trung Quốc lên nhận thức trong khu vực và sự nhạy cảm đối với lợi ích của Trung Quốc vẫn là mối quan tâm của Mỹ.

    Ông David Shear tuyên bố Mỹ sẽ tăng cường hơn nữa sự hiện diện của họ tại đây. Ông cũng thừa nhận rằng các Tổng thống Mỹ trước đó đã bỏ lỡ các hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, các Ngoại trưởng đã bỏ qua các cuộc họp ở Diễn đàn Khu vực ASEAN và các quan chức cấp cao của Mỹ đã không dành đủ thời gian cho các mối quan hệ song phương trong khu vực.

    Ông David Shear nhấn mạnh rằng thông điệp của Chính phủ Obama để giải quyết vấn đề này thật đơn giản: “Chúng ta quay trở lại và sẵn sàng tham gia tích cực”. Ông cũng tiết lộ, Oasinhtơn dự tính chỉ định một Đại sứ Mỹ ở Giacácta làm Đại sứ tại ASEAN và bắt đầu tham vấn về việc làm cách nào Mỹ có thể đóng vai trò quan trọng trong Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

    Ernest Bower, Cố vấn cấp cao và là Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế có trụ sở tại Oasinhtơn, nhấn mạnh rằng Đông Nam Á mong muốn và cần Mỹ tham gia nhiều hơn và thể hiện rõ chiến lược nâng cao lợi ích của họ trong khu vực. Chỉ khi đó, mong muốn về cân bằng quyền lực lâu dài ở Đông Nam Á mới được hiện thực hóa.

    Ông Bower cho rằng Đông Nam Á không xem Trung Quốc là một “mối quan ngại về an ninh ở phương Bắc”, mà là “một nước láng giềng tham gia và quan tâm đến việc cung cấp những lợi ích đáng kể về thương mại, viện trợ, du lịch và hứa hẹn gia tăng đầu tư và thúc đẩy sự thịnh vượng. Ông Bower cũng cho hay Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các sinh viên Đông Nam Á đến và học tập ở Trung Quốc, cung cấp các suất học bổng ở các cấp, kể cả cho các học viên và nghiên cứu sinh lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ. Chính sách của Trung Quốc hướng tới Đông Nam Á trong 15 năm qua đã chuyển đổi từ tư tưởng đến cơ hội và thực dụng. Học giả Bower kết luận, có lẽ sự khác biệt quan trọng nhất giữa Trung Quốc và Mỹ tại khu vực Đông Nam Á là Trung Quốc có một chiến lược rõ ràng trong khu vực, còn Mỹ thì không.

    Ông Walter Lohman, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Á tại The Heritage Foundation ở Oasinhtơn, nhận định về sự khác biệt quan trọng giữa chiến lược ngoại giao của Mỹ và Trung Quốc trong khu vực như sau: “Trung Quốc có cách tiếp cận mà chúng ta không làm. Dĩ nhiên, quan chức Mỹ có trách nhiệm với người dân Mỹ theo cách mà Trung Quốc không làm đối với người dân của họ. Chúng ta không thể lập các hiệp định thương mại theo cách chỉ chọn người thắng và kẻ bại bằng chính sách ngoại giao hoặc công nghiệp bắt buộc. Người Trung Quốc cũng gần hơn và gửi nhiều nhà ngoại giao tới ASEAN. Chúng ta có thể làm tốt hơn là chúng ta bảo vệ ASEAN, nhưng chúng ta không thể làm giống hệt như cách người Trung Quốc làm, ngoại giao giống như ngoại giao của họ, diễn đàn như diễn đàn của họ”. Ông Lohman cho biết thêm, Mỹ nên sử dụng chính sách “đòn bẩy”. Theo Lohman, nếu Trung Quốc muốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của ASEAN, Mỹ cần có các mối quan hệ trong khu vực để giúp ASEAN quyết định điều gì là quan trọng đối với họ và lên tiếng về những điều mà họ quan tâm. Nếu các công ty đa quốc gia của Trung Quốc muốn đầu tư vào ASEAN, thì Mỹ cần làm sao để họ tuân theo các tiêu chuẩn thân thiện của Mỹ và đưa họ hội nhập vào các chuỗi cung ứng của Oasinhtơn.

    Trợ lý giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Georgetown, Catharin Dalpino đề cập tới chiến lược chia nhỏ khu vực của Bắc Kinh và vai trò của Trung Quốc ở khu vực đất liền Đông Nam Á ngày càng khác xa với mối quan hệ của họ ở trên vùng biển thuộc Đông Nam Á như thế nào.

    Bà Dalpino nói: “Chắc chắn là mức độ khác nhau nhưng sự khác biệt đáng kể trong chính sách của Trung Quốc về việc chia đôi khu vực là Trung Quốc tập trung hơn trong việc xâm nhập khu vực đất liền để tạo ra một sự chia rẽ không chính thức. Sự phát triển trong khu vực đất liền ở Đông Nam Á đã không phát triển riêng lẻ, mà nó đã được tạo ra do sự thiếu đồng bộ trong chính sách của Mỹ về hai khu vực này trong nhiều năm và sự thờ ơ của Oasinhtơn đối với khu vực đất liền ở Đông Nam Á”. Bà Dalpino cũng lưu ý, chẳng hạn như “liên minh với Thái Lan đã tự động phát triển trong nhiều năm”.

    Ông Bronson Percival, Cố vấn cấp cao Trung tâm Nghiên cứu chiến lược thuộc Trung tâm Phân tích Hải quân tại Virginia, đã tranh luận rằng “Mỹ là lực lượng cân bằng trong khu vực Đông Nam Á” và luôn nhấn mạnh rằng “mục đích không phải là Mỹ đối đầu với Trung Quốc ở Đông Nam Á”.

    Hơn nữa, Chính phủ Obama giờ đây đã thay đổi được tư tưởng chống Mỹ phổ biến dưới thời George. W. Bush và sự thờ ơ của Mỹ qua việc ký kết Hiệp định Thân thiện và Hợp tác với ASEAN. Mỹ cũng đã xây dựng được các mối quan hệ quân sự đặc biệt ở vùng biển thuộc Đông Nam Á. Ông Percival cũng kêu gọi Mỹ thay đổi sự tập trung vào Đông Nam Á từ các vấn đề nhân đạo như Mianma đến các vấn đề an ninh quan trọng như Biển Đông. Bronson Percival kết luận, chúng ta không biết liệu Bắc Kinh có đưa ra “chủ nghĩa đế quốc gặm nhấm” ở Biển Đông hay không, nhưng chúng ta cần ngăn chặn sự thống trị của Trung Quốc ở vùng biển này, giữ quyền tự do đi lại cho các lực lượng vũ trang của Mỹ và cung cấp nguồn năng lượng là rất quan trọng đối với liên minh của Mỹ tại vùng Đông Bắc Á và thật ra là để duy trì đầy đủ ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Đông Á./.

    Hoa Kỳ cân nhắc sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Đông Nam Á
    (Tác giả: Peter J Brown, Người dịch: Ngọc Thu // Theo TuanVietnam)

    Năm dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, hai quan chức cao cấp của chính phủ và 10 chuyên gia đến USCC để điều trần vào lúc Hoa Kỳ hứa sẽ tập trung vào quan hệ ngoại giao ở khu vực Đông Nam Á.

    Cuối tháng qua, Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế và An ninh Mỹ - Trung (USCC) tổ chức một buổi điều trần dài về các hoạt động của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á và tác động đối với lợi ích của Mỹ ở khu vực chiến lược này. Có năm dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, hai quan chức cao cấp của chính phủ và 10 chuyên gia đến USCC để điều trần vào lúc Hoa Kỳ hứa sẽ tập trung vào quan hệ ngoại giao ở khu vực Đông Nam Á.

    Ủy viên USCC, ông Larry Wortzel nhấn mạnh về những ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc gia tăng trong khu vực, lưu ý rằng Trung Quốc tài trợ nhiều dự án khai thác tài nguyên thực hiện "với mục tiêu tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế của Trung Quốc". Ông lưu ý rằng Bắc Kinh cũng cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp để tài trợ các dự án cơ sở hạ tầng, đặc biệt ở Myanmar, Lào và Campuchia.

    Trong khi có đầy đủ tài liệu về những thoả thuận kinh tế của Trung Quốc trong khu vực, ông Wortzel lưu ý rằng gần đây Trung Quốc đã mở rộng ảnh hưởng an ninh với Đông Nam Á, bao gồm cả việc bán vũ khí và tập trận chung. "Các cuộc viếng thăm quân sự cao cấp giữa Trung Quốc và Đông Nam Á gia tăng, cũng như các cuộc viếng thăm từ các tàu hải quân Trung Quốc", ông Wortzel nói.

    Buổi điều trần xảy ra ngay sau khi các thành viên USCC đến Đài Loan và Việt Nam hồi tháng 12 và đã thảo luận việc gia tăng sự hiện diện của Trung Quốc trong khu vực. Trong khi mở rộng quan hệ an ninh, Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế An ninh Mỹ - Trung thường xuyên được nhắc nhở rằng, Hà Nội quan ngại việc Trung Quốc gia tăng sự khẳng định của họ trên Biển Đông, nơi mà nhiều nước trong khu vực có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn.

    "Khi hải quân Trung Quốc cải thiện sức mạnh, có thể gồm cả hạm đội tàu sân bay trong tương lai không xa, cán cân quyền lực trong khu vực nghiêng hẳn về phía Trung Quốc", ông Wortzel nói. "Đã có một số quốc gia bắt đầu phản ứng, có thể thấy rõ qua việc công bố kế hoạch gần đây của Việt Nam mua sáu tàu ngầm hiện đại và 12 máy bay chiến đấu của Nga. Sư xuất hiện của dầu hỏa và khí đốt trong khu vực chỉ làm trầm trọng thêm, "ông Wortzel nói.

    Dân biểu Hoa Kỳ, ông Dana Rohrabacher, thành viên của Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện, đã thẳng thắn hơn trong việc chỉ trích ảnh hưởng của Bắc Kinh gia tăng trong khu vực, đề cập đến Trung Quốc như là "một quốc gia chuyên chế đang tìm cách trở thành một đế chế độc tài và lan rộng sự ảnh hưởng và sự thống trị lên khắp khu vực, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á".

    Tất cả các nước châu Á, "có lẽ mối quan hệ thân thiện nhất mà Trung Quốc có, là mối quan hệ với hệ thống cai trị băng đảng mà bây giờ đang điều hành đất nước Miến Điện (Myanmar). Trung Quốc trang bị vũ khí cho băng đảng Miến Điện tới tận răng và đổi lại băng đảng này bóc lột người dân Miến Điện, lấy đi nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của dân", ông Rohrabacher nói.

    Bà Ellen Frost, giáo sư thỉnh giảng tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson cho biết, chính phủ các nước Đông Nam Á đang để mắt cảnh giác về việc gia tăng quân sự của Trung Quốc. Trong khi được trấn an về các hành vi gần đây của Trung Quốc, một số nước vẫn không rõ mục đích cuối cùng của Trung Quốc là gì, bà nói.

    "Các nhà lãnh đạo lớn tuổi hơn nhớ lại thời kỳ Trung Quốc tích cực hỗ trợ các thành phần nổi loạn ở đất nước họ. Thay vì tìm cách lập liên minh chống Trung Quốc, những người có kinh nghiệm điều hành chính phủ Đông Nam Á đã chọn cách 'đặt' Trung Quốc vào các tổ chức mà vị trí và chương trình nghị sự nằm trong sự kiểm soát của họ", bà Frost nói.

    "Họ tính toán rằng đưa Trung Quốc vào rất nhiều thoả thuận và các ủy ban, sẽ khuyến khích thái độ hòa bình và hợp tác, giúp ổn định khu vực. Nhưng để được an toàn, nhiều chính phủ ASEAN đang tái khẳng định hoặc tăng cường quan hệ quân sự với Hoa Kỳ". Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bao gồm các nước như Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.

    Bà Frost nhấn mạnh rằng, các nhà lãnh đạo ASEAN tìm cách gia tăng tối đa tiếng nói tập thể trong khu vực và rộng hơn trên thế giới. "Họ tính toán rằng, để cho Trung Quốc giữ vai trò lãnh đạo ở các tổ chức trong khu vực càng làm cho các cường quốc khác chú ý hơn tới khu vực và tham gia vào các nước ASEAN và thậm chí sẽ có các điều khoản hấp dẫn hơn để thương lượng", bà Frost nói.

    Hai mặt của kinh tế

    Theo ông David Shear, Phó trợ lý Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về vấn đề Đông Á - Thái Bình Dương, "Rõ ràng là cả [Trung Quốc] và các nước ASEAN đều thấy đôi bên cùng có lợi trong việc mở rộng thương mại", và "quan hệ kinh tế của Trung Quốc trong khu vực có khả năng sẽ phát triển hơn nữa khi gia nhập Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-ASEAN [CAFTA], có hiệu lực vào ngày đầu tiên trong năm nay".

    Ông Shear cũng đã tranh luận rằng, trong quá trình "Trung Quốc phân chia kinh tế địa phương và những căng thẳng đối với một số nền kinh tế Đông Nam Á" và có sự gia tăng mối quan ngại "rằng cạnh tranh bằng hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc có thể ảnh hưởng không tốt đến ngành công nghiệp trong nước họ". Ông Shear lưu ý rằng Indonesia đã kêu gọi xem xét lại thoả thuận liên quan tới các mối quan ngại đó.

    Trong khi khu vực Đông Nam Á "nhận ra nhiều cơ hội lớn ở Trung Quốc, họ vẫn thấy các mối quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ và những nước khác là cần thiết", ông Shear cho biết.

    Năm 2008, tổng doanh số thương mại của Trung Quốc với các nước trong khu vực đạt $193 tỉ đô la, tăng từ $45,5 tỉ năm 2001. Trong khi đầu tư trực tiếp của Bắc Kinh vào trong khu vực vẫn thấp so với Hoa Kỳ và Nhật Bản, nhưng viện trợ trực tiếp của Trung Quốc thì lớn hơn nhiều.

    Bắc Kinh đã bỏ ra $10 tỉ đô la để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cải thiện đường bộ, đường sắt, đường hàng không và các đường viễn thông nối kết giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, theo tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan. Bắc Kinh cũng đã bỏ ra $15 tỉ đô la để cho vay nhằm thúc đẩy sự liên kết và hội nhập trong khu vực, ông nói.

    Ngoại giao Trung Quốc, thường được gọi là "quyền lực mềm", cũng đã nhấn mạnh các mối liên hệ văn hóa. Ví dụ như, nhiều sinh viên Thái Lan - khoảng 10.000 - bây giờ đang học ở Trung Quốc nhiều hơn là ở Mỹ. Ông Shear lưu ý rằng, Trung Quốc đã mở Viện Khổng Tử học đầu tiên tại châu Á vào năm 2004 và rằng hiện nay có 70 viện trên khắp châu Á và 282 viện trên toàn cầu. "Riêng Thái Lan, có tới 12 viện, và gần đây Trung Quốc đã mở một viện đầu tiên tại Campuchia," ông Shear cho biết.

    Để cạnh tranh trong việc thuyết phục mọi người thì cần các làn sóng phát thanh. Trong khi Hoa Kỳ từ lâu đã hỗ trợ cho Đài Á châu Tự do và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ với các chương trình phát thanh trong khu vực, Trung Quốc lập Đài phát thanh Hữu nghị Trung Quốc - Campuchia hồi tháng 12 năm 2008. "Tác động thực sự từ các nỗ lực của Trung Quốc lên sự nhận thức trong khu vực và sự nhạy cảm đối với lợi ích của Trung Quốc vẫn là lĩnh vực mà Hoa Kỳ quan tâm", ông Shear nói.

    "Người ta nói rằng để thành công trong ngoại giao ở Đông Nam Á, tất cả những gì bạn cần làm là phải hiện diện ở đó. Đây là một tiêu chuẩn quá thấp, chính phủ này (Obama) sẽ làm nhiều hơn nữa", ông Shear nói. Ông thừa nhận rằng các Tổng thống Hoa Kỳ trước đó đã bỏ lỡ các hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, các Ngoại trưởng đã bỏ qua các cuộc họp ở Diễn đàn Khu vực ASEAN và các quan chức cao cấp Hoa Kỳ đã không dành đủ thời gian cho các mối quan hệ song phương trong khu vực.

    "Thông điệp của chính phủ Barack Obama để giải quyết vấn đề này thật đơn giản: chúng ta quay trở lại và sẵn sàng tham gia tích cực", ông Shear cho biết, lưu ý rằng Washington dự tính chỉ định một Đại sứ Mỹ ở Jakarta tại ASEAN và bắt đầu tham vấn về việc làm cách nào Hoa Kỳ có thể đóng vai trò quan trọng trong Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, một nhóm 16 quốc gia trong khu vực Đông Á họp hàng năm.

    Ernest Bower, cố vấn cao cấp và là giám đốc Chương trình Đông Nam Á, thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế có trụ sở tại Washington, nhấn mạnh rằng "Đông Nam Á muốn và cần Hoa Kỳ tham gia nhiều hơn và nói rõ chiến lược nâng cao lợi ích của mình trong khu vực. Chỉ sau đó, khát vọng lâu dài về cân bằng quyền lực ở Đông Nam Á mới được thỏa mãn".

    Bower nói rằng Đông Nam Á, không xem Trung Quốc như là một nước "rất lớn, ý thức hệ vụng về, chỉ nghĩ về mình, mối quan ngại về an ninh ở phương bắc", mà là "một nước láng giềng tham gia và quan tâm đến việc cung cấp những lợi ích đáng kể trong giao thương, viện trợ, du lịch và hứa hẹn gia tăng đầu tư và thịnh vượng ".

    "Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các sinh viên Đông Nam Á đến và học tập ở Trung Quốc, cung cấp các suất học bổng ở các cấp, kể cả cho các nghiên cứu sinh lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ. Chính sách của Trung Quốc hướng tới Đông Nam Á trong 15 năm qua đã chuyển đổi từ tư tưởng đến cơ hội và thực dụng," ông Bower nói.

    Ông nói trong một dịp nào đó rằng, Trung Quốc đã đi quá đà và không có lợi cho họ, kể cả ở Biển Đông hoặc khi họ gây áp lực với chính quyền Campuchia để trả những người tị nạn Duy Ngô Nhĩ về Trung Quốc hồi cuối năm ngoái.

    Ông Bower nói: "Các nhà lãnh đạo trong khu vực nhận ra những ví dụ này như những nắm đấm bằng sắt bị cong lại dưới bàn tay nhung trong chính sách ngoại giao mới của Trung Quốc. Mối quan tâm chính trong khu vực Đông Nam Á, cũng như cách nay 15 năm, vẫn là duy trì sự cân bằng giữa các nước mạnh ... Có lẽ sự khác biệt quan trọng nhất giữa Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á là Trung Quốc có một chiến lược rõ ràng trong khu vực, còn Hoa Kỳ thì không", ông nói.

    Chính sách ngoại giao chia rẽ

    Ông Walter Lohman, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Á tại The Heritage Foundation ở Washington, ghi nhận sự khác biệt quan trọng trong cách ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực.

    "Chỉ đơn giản là bạn không thể hiểu được quá trình ra quyết định của ASEAN theo cách mà chúng ta học ở trường, với các nước đang tìm cách gia tăng tối đa những thuận lợi mà không cân nhắc đến các vấn đề trong nước, đôi khi các nhu cầu về con người từ phía các nhà lãnh đạo. Cách tiếp cận của Trung Quốc đối với các vấn đề ngoại giao kinh tế về sự năng động này, họ làm theo cách mà chúng ta không làm", ông Lohman nói.

    "Hoa Kỳ không thể bắt chước cách làm của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Dĩ nhiên, các viên chức Mỹ có trách nhiệm với người dân Mỹ theo cách mà Trung Quốc không làm đối với người dân của họ. Chúng ta không thể lập các hiệp định thương mại theo cách chỉ chọn người thắng và kẻ bại bằng chính sách ngoại giao hoặc công nghiệp bắt buộc.

    "Người Trung Quốc cũng gần hơn và gửi nhiều nhà ngoại giao tới ASEAN. Chúng ta có thể làm tốt hơn là chúng ta bảo vệ ASEAN, nhưng chúng ta không thể làm giống hệt như cách người Trung Quốc làm, ngoại giao giống như ngoại giao của họ, diễn đàn như diễn đàn của họ," Lohman nói thêm, rằng Hoa Kỳ không nên "bật dậy trật tự kinh tế hiện nay", nhưng thay vào đó, sử dụng chính sách "đòn bẩy".

    "Nếu Trung Quốc muốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở ASEAN, tốt thôi. Hoa Kỳ cần có các mối quan hệ trong khu vực để giúp ASEAN quyết định điều gì là quan trọng đối với họ và lên tiếng về những điều mà họ quan tâm. Nếu các công ty đa quốc gia của Trung Quốc muốn đầu tư vào ASEAN, thật tuyệt vời. Làm sao cho họ tuân theo các tiêu chuẩn thân thiện của Hoa Kỳ và đưa họ hội nhập vào các chuỗi cung ứng của Mỹ ", ông Lohman nói.

    "Nếu có thể tăng thêm giao thương giữa ASEAN và Trung Quốc, các công ty Mỹ nên đầu tư vào cả hai phía và hội nhập vào các thị trường ở trong nước. Tranh đấu với xu hướng kinh tế hiện nay chỉ hủy hoại tiếng tăm về khả năng lãnh đạo của chúng ta".

    Catharin Dalpino, Trợ lý giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Georgetown, nói tới chiến lược chia nhỏ khu vực của Bắc Kinh và vai trò của Trung Quốc ở khu vực đất liền Đông Nam Á "ngày càng khác xa với mối quan hệ của họ ở trên biển Đông Nam Á" như thế nào.

    Bà Dalpino nói: "Chắc chắn là mức độ khác nhau nhưng sự khác biệt đáng kể trong chính sách của Trung Quốc về việc chia đôi khu vực, tuy nhiên, Trung Quốc tập trung hơn trong việc xâm nhập vào khu vực đất liền để tạo ra một sự chia rẽ không chính thức. Sự phát triển trong khu vực đất liền ở Đông Nam Á đã không phát triển riêng lẻ, mà nó đã được tạo ra do sự thiếu đồng bộ trong chính sách của Hoa Kỳ về hai khu vực này trong nhiều năm và sự thờ ơ của Washington đối với khu vực đất liền ở Đông Nam Á."

    Bà cũng lưu ý, chẳng hạn như "liên minh với Thái Lan đã tự động phát triển trong nhiều năm".

    "Ở một mức độ cơ bản hơn, những người Thái Lan trẻ hơn, đã không hiểu lý do về mối quan hệ liên minh và cũng vì sự miễn cưỡng của Hoa Kỳ cung cấp viện trợ song phương cho Thái Lan trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, đã làm cho nhiều người Thái thờ ơ, như các ví dụ về sự bất hòa giữa hai nước", bà Dalpino nói.

    Ông Bronson Percival, cố vấn cao cấp Trung tâm Nghiên cứu chiến lược, thuộc Trung tâm Phân tích Hải quân tại Virginia, đã tranh luận rằng "Hoa Kỳ là lực lượng cân bằng trong khu vực Đông Nam Á" và luôn nhấn mạnh rằng "chủ đề không phải là Hoa Kỳ đối đầu với Trung Quốc ở Đông Nam Á".

    "Hơn nữa, chính phủ Obama bây giờ đã đảo ngược chủ nghĩa chống Mỹ phổ biến dưới thời [George W] Bush và nhận thức việc lan rộng về sự thờ ơ của Hoa Kỳ qua các hành động tượng trưng, bao gồm việc ký kết Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác với ASEAN. Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã xây dựng một mạng lưới dày đặc, các mối quan hệ quân sự với quân sự, đặc biệt ở vùng biển Đông Nam Á", ông Percival, người kêu gọi Hoa Kỳ "thay đổi sự tập trung vào Đông Nam Á từ các vấn đề nhân đạo như Miến Điện đến các vấn đề an ninh quan trọng như Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)".

    "Chúng ta không biết liệu Bắc Kinh có đưa ra 'chủ nghĩa đế quốc gặm nhắm' ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) hay không, nhưng để ngăn ngừa sự thống trị của Trung Quốc ở vùng biển này, giữ quyền tự do đi lại cho các lực lượng vũ trang của Mỹ và cung cấp năng lượng thì rất quan trọng đối với liên minh Hoa Kỳ tại vùng Đông Bắc Á và thật ra là để duy trì toàn bộ ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Á," ông nói.


    Nhật Bản tham gia kế hoạch hợp tác trị giá 170 tỷ USD với ASEAN
    (Theo Hanoimoi Online)

    Chính phủ Nhật Bản đang tích cực chuẩn bị kế hoạch tham gia hợp tác cùng Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong một dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và khai thác nguồn tài nguyên trị giá 15.000 tỷ yên (tương đương 170 tỷ USD).

    Theo kế hoạch trên, Nhật Bản sẽ cùng ASEAN thúc đẩy các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và khai thác nguồn tài nguyên quy mô lớn tại các nước trong khối này. Các bên sẽ tập trung đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng và mạng lưới viễn thông nhằm tạo ra một khu vực sản xuất tập trung khổng lồ có thể sánh ngang với Trung Quốc và Ấn Độ. Việc xây dựng được tiến hành dưới hình thức đấu thầu tại từng nước và Nhật Bản giữ vai trò chỉ đạo việc hoạch định kế hoạch. Do đó, Nhật Bản sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào ASEAN nhằm cạnh tranh sức ảnh hưởng với các doanh nghiệp Trung Quốc.

    Dự án sẽ tập trung vào 3 khu vực trọng điểm là lưu vực sông Mê Công; các nước Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia và các đảo phía Đông ASEAN như quần đảo Philíppin và Calimantan. Trước mắt, dự án sẽ tập trung xây dựng đường cao tốc nối miền Trung Thái Lan tới cảng Đauê ở phía Nam Mianma và mạng lưới viễn thông tốc độ cao giữa Campuchia với Lào và một số nước lân cận, nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các thành viên ASEAN. Sau đó, các bên sẽ đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng tiết kiệm năng lượng như xây dựng nhà máy điện và các đường ống dẫn khí tự nhiên chạy dọc bán đảo Đông Dương. Tổng số các dự án có thể lên tới con số 600.

    ASEAN là thị trường đầu tư quan trọng của Nhật
    (TTXVN/Vietnam+)




    Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet) Các công ty Nhật Bản đã và đang quan tâm mở rộng đầu tư vào nhiều lĩnh vực tại thị trường Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhằm tận dụng nguồn lực và nguyên vật liệu dồi dào, giá nhân công rẻ, chính sách khuyến khích đầu tư và khả năng của khu vực thích ứng với công nghệ mới.

    Giáo sư kinh tế trường Đại học Seinan Gakuin ở Nhật Bản, ông Shigeki Higashi cho biết Nhật Bản nhận định 10 nước ASEAN là những đối tác quan trọng, với Hiệp định khu vực thương mại tự do (FTA) giữa các nước thành viên ASEAN với nhau và giữa ASEAN với Nhật Bản đang là chìa khóa thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ký FTA.

    Hiệp hội ASEAN đã ký kết hoặc đang tiến hành đàm phán để ký FTA với hầu hết các khu vực trọng yếu, xem đó là chiến lược thúc đẩy đà tăng trưởng kinh tế và củng cố sức mạnh chính trị.

    Ông Higasi cho rằng FTA giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (ASEAN+3) và giữa ASEAN với ba nước kể trên cùng với Ấn Độ, Australia và New Zealand (ASEAN+6) cũng sẽ nâng cao vai trò của khối ASEAN trên toàn cầu.

    Theo ông, với việc Hiệp hội hướng tới thiết lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015, các thương gia và các nhà đầu tư Nhật Bản đang tích cực tìm kiếm cơ hội kinh doanh không chỉ qua sự hội nhập kinh tế của Hiệp hội ASEAN mà còn qua những thỏa thuận về đối tác kinh tế với Thái Lan và một số thành viên khác trong khu vực./.


    FTA Ấn Độ - ASEAN sẽ đẩy thương mại song phương lên 100 tỷ USD
    (Theo VITINFO)

    Hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa Ấn Độ và ASEAN chính thức có hiệu lực từ tháng 01/2010 được cả hai bên hy vọng sẽ góp phần thúc đẩy giá trị thương mại song phương lên tăng lên 100 tỷ trong vòng 5 năm tới.

    Các cam kết tự do hoá thương mại về hàng hóa trong hiệp định FTA sẽ giúp cho hơn 4000 mặt hàng của các nước thành viên khu vực ASEAN được dễ dàng tiến vào thị trường Ấn Độ. Qua đó, ASEAN sẽ thu được nguồn lợi nhuận không nhỏ từ thị trường tiêu thụ rộng lớn với dân số 1,1 tỷ người của Ấn Độ.

    Ông R.Ravindran, cựu thành viên Nghị viện Singapore cho biết: "Có những khối kiến trúc to lớn hơn đang được đặt vào vị trí của nó khi chúng ta muốn xây dựng một cộng đồng kinh tế Châu Á. Tất cả những khối nhỏ bé này đang được chúng ta đặt lại gần nhau để dựng xây một tương lai tốt đẹp hơn. Nó khiến chúng ta có thể khẳng định thập kỷ tới là thập kỷ của Châu Á."

    Hiện tại, tổng mức GDP của cả Ấn Độ và ASEAN đạt hơn 2 nghìn tỷ USD, tuy nhiên, thương mại song phương của hai bên vẫn chỉ đang đứng ở mức 40 triệu USD.

    Bên cạnh các cam kết tự do hóa thương mại về hàng hóa, các điều khoản khác về thương mại dịch vụ giữa hai bên cũng đang chờ được thông qua. Nếu như hiệp định này được ký kết, ASEAN sẽ có cơ hội học hỏi về chuyên môn trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, phát triển nguồn lực bên ngoài trong thương mại.

    Ông Harshpati Singhania, chủ tịch Phòng Thương mại Công nghiệp Ấn Độ FICCI cho biết: "Chúng ta cần phải giảm đi sự phụ thuộc của mình vào các nước phương Tây. Chỉ khi các quan hệ kinh tế trong khu vực Châu Á được xiết chặt lại và có được một cơ cấu cân bằng giữa nhu cầu nội địa và nhu cầu trong khu vực, chúng ta mới có thể đạt được một sự tăng trưởng nhanh chóng và vững vàng trong khu vực."

    Kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã bắt đầu chuyển hướng thương mại sang khu vực Châu Á.

    Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN hiện là FTA lớn thứ ba thế giới chỉ xếp sau Liên minh Châu Âu và Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ. Nó tạo ra một thị trường rộng lớn gồm 1,9 tỷ dân với GDP chung lên tới gần 6000 tỷ USD.

    Với những hiệp định đã ký kết, có thể thấy Trung Quốc và Ấn Độ đang dần dần thay thế Mỹ và Châu Âu trở thành bạn hàng lớn nhất của khu vực ASEAN.



    ( tổng hợp )